Viết đoạn văn 200 chữ cảm nhận về triết lí nhân sinh được thể hiện trong câu chuyện Một trận bão cuối năm

Đề bài:  Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ), cảm nhận về triết lí nhân sinh được thể hiện trong câu chuyện Một trận bão cuối năm.

MỘT TRẬN BÃO CUỐI NĂM (trích)

(Bùi Hiển)

“Ấy là hôm hăm chín, ngày cuối năm.

Nửa đêm, sau khi nghe trên đền nổ ba chiếc lõi sắt báo giờ giao thừa, làng bỗng dậy ran tiếng pháo. Đám nhà giàu, mà trận bão vừa qua không làm thiệt hại, ầm ĩ đón mừng năm mới. Tiếng huyên náo sục vào những nhà dân chài. Niềm bi thống chợt thức dậy càng bóp lòng những mụ nhà quê. Họ ngờ ngạc lắng nghe tiếng mừng xôn xao của thiên hạ.

Lát sau một đám người tụ họp trước miếu thờ dựng cạnh ngả đường ra cửa lạch. Họ vào miếu sì sụp khấn vái và hi vọng. Nhưng khi trở ra, khi tiếp xúc với bóng đêm lạnh và nghe rõ tiếng bể rền rĩ, ai nấy lại đều tấm tức muốn khóc. Họ đứng tần ngần, không muốn lìa nhau. Mỗi to buồn chung đã ràng buộc họ..

Phía trước mặt, cửa lạch in hình tam giác mờ mờ trắng. Sóng bể u trầm tha thiết. Giữa cái huyên náo đặc đen và bao la ngoài kia, chồng con họ hiện ở chỗ nào? Trong tiếng sóng, phải chăng có chen lời than vãn của những kẻ đáng thương chết không mồ mả, thân thể bị nước mặn hung hãng nhồi lắc, ray rứt đến rã rời từng mẩu thịt sũng mềm?

Một mụ nói: “Về ta!”. Nhưng không ai nhúc nhích. Khoảng trắng mờ tam giác như thu hết linh hồn mọi người: trí não giãn căng, họ như mong đợi một sự xuất phàm. Và họ đã được chứng kiến một cảnh tượng kì lạ.

Có phải mọi người đều hoa mắt, vì đã nhìn lâu trong bóng tối? Sự chấn động gây bởi những ngày chờ đợi vô vọng đã đánh loạn thị giác họ chăng? Nhưng mãi ngày nay, tuy việc đã lùi xa theo thời gian, những người trong cuộc đều đoán chắc đã thấy rõ ràng và kể lại được tách bạch từng tiểu tiết.

Họ thấy giữa khoảng bể đen mở mọc lên một điểm ánh sáng xanh, tiếp sau đó mọc thêm hai điểm nữa cũng màu xanh biếc y hệt. Trông giống ba vì sao vừa ngoi ở nước lên, gióng thẳng hàng như buộc lấy nhau bằng một sợi dây. Những điểm ánh sáng ấy bay tới phía cửa lạch, to dần thành những ngọn đèn le lói chiếu mờ mờ ra chung quanh, làm nổi những bóng đen lớn thon dài. Người ta nhận ra được hình chiếc thuyền. Buồn không thấy căng lên, không nghe chèo khuấy nước. Nhưng ba chiếc thuyền tiến vào rất nhanh. Ba ngọn đèn vuông tỏa ánh sáng xanh mờ bí mật, không soi rõ những bóng người lố nhố trên thuyền. Thuyền đi rất êm, như cách lướt trong bóng tối, không chạm mặt nước. Những hình người không động và im lìm. Chợt một bóng người ở thuyền đầu tách ra tiến đến phía mũi và nói bằng một giọng nghe xa xôi: “Được rồi đó. Thôi quay trở lại, anh em…”

Mụ Can Túc tưởng nhận ra tiếng chồng, hồi hộp hỏi ra: “Bố thằng Can đó phải không?. Người kia giơ đèn lên ngang mặt, nhìn vào bờ hỏi lại: “Tiếng ai như tiếng mẹ thằng Can?”.

Nhờ ánh đèn, mọi người đều nhận rõ mặt bác Can Túc. Bác cười lặng lẽ miệng dịch đến mang tai. Hai mắt lóng lánh một vẻ tinh quái, như giấu một sự bí mật gì.

Bác dệch miệng cười rất lâu, rồi nói lớn: “Anh gửi lời chào bà con cả. Anh em ở xa ghé về thăm nhà một tỉ, giờ đi đây”. Chưa ai kịp đáp gì, cũng chưa ai kịp hiểu những sự vừa xảy ra, thì ba chiếc thuyền đã đồng thời quay mũi. Người ta tưởng thấy bóng người cử động như đang chèo, nhưng không hề nghe tiếng nước xao động. Ba chiếc thuyền ma lặng lờ quay ra biển, trở về chốn vô cùng.

Mọi người sững sờ nhìn theo. Đột nhiên ba điểm ánh sáng xanh cùng một lúc vụt chim xuống đáy biển, như những tia hi vọng mong manh chẳng còn bao giờ trở lại.

Ngày hôm sau, bốn chiếc thuyền nữa lần về được lạch nhà. Một chiếc thứ năm đã bị giật xuống ngang của Nhật Lệ. Thuyền up, nhưng may bạn chải đều sống sót, họ lần lên Đồng Hới, tìm được đến nhà thầy mẹ tôi. Họ xin một bữa rượu, “uống để giải cái rét”. Cơm rượu no say, mỗi người được biếu một cái nón, bộ quần áo, một xuất tiền xe trở về làng.

Duy ba chiếc thuyền cuối cùng bặt tin tức. Bác Can Túc chỉ còn lưu lại trong kí ức mọi người hình ảnh nét cười lặng lẽ dếch đến tận mang tai, cái cười mang một vẻ vừa bí hiểm vừa tinh nghịch, hầu như vui vẻ nữa, cứ như thể bác đã tìm ra được cái bí quyết vượt qua mọi gian nguy khó trên đời và tới được nơi an ổn vĩnh viễn. Mỗi khi nhắc chuyện bác, người ta nói: “Mồ ma bác Can.”

(Trích Một trận bão cuối năm – Bùi Hiển, theo vnexpress.net)

Dàn ý Đoạn văn 200 chữ cảm nhận về triết lí nhân sinh được thể hiện trong câu chuyện Một trận bão cuối năm

+ Không được thể hiện trực tiếp qua lời của người kể chuyện mà gián tiếp hiện lên qua sự việc trở về của ba chiếc thuyền ma.

+ Sự trở về trong thoáng chốc của ba chiếc thuyền ma trong thời khắc giao thừa không chỉ là một niềm an ủi đối với những gia đình có người thân đi biển bị tử nạn trong trận bão mà còn thể hiện quan niệm của Bùi Hiển về sự sống, về con người: Chết không phải là sự kết thúc, chết chỉ là sự bắt đầu cho một hành trình khác, hành trình tiếp theo của mỗi người để đi về chốn vô cùng – một nơi chốn có lẽ có nhiều bí mật, bí ẩn lí thú, đáng để khám phá. Phải vậy chăng mà bác Can Túc, khi cùng anh em trên ba con thuyền đắm biển trong trận bão, đã dếch miệng cười, nụ cười bí hiểm, tinh nghịch, vui vẻ?

=> Triết lí nhân sinh thể hiện cái nhìn nhẹ nhàng về sự sống – còn, về lẽ sinh – tử. Hơn hết, đó là một quan niệm đầy tính nhân văn và cũng rất đáng để chúng ta chiêm nghiệm về sự tồn tại của con người trong vũ trụ đầy bí mật.

Đoạn văn 200 chữ cảm nhận về triết lí nhân sinh được thể hiện trong câu chuyện Một trận bão cuối năm

Đoạn văn 200 chữ cảm nhận về triết lí nhân sinh được thể hiện trong câu chuyện Một trận bão cuối năm (Mẫu 1)

Trong Một trận bão cuối năm, Bùi Hiển không trực tiếp giảng giải triết lí nhân sinh qua lời nhân vật hay lời người kể, mà tinh tế gửi gắm nó qua sự trở về kì lạ của ba chiếc thuyền ma trong đêm giao thừa. Hình ảnh những điểm sáng xanh mọc lên giữa biển đen, rồi ba chiếc thuyền lặng lẽ tiến vào lạch như đang lướt trong bóng tối, trở thành một khoảnh khắc siêu thực, vừa kỳ bí vừa thấm đẫm tình người. Với những dân chài mất chồng, mất con trong trận bão, sự trở về chỉ trong chốc lát ấy là một niềm an ủi lớn lao, giúp họ vơi đi phần nào nỗi tuyệt vọng đang đè nặng. Nhưng sâu hơn, nó còn hé lộ một quan niệm nhân sinh đặc sắc của Bùi Hiển: cái chết không phải dấu chấm hết. Chết chỉ là sự chuyển tiếp sang một hành trình khác, hành trình trở về với biển cả, với nơi vô cùng rộng lớn mà con người vẫn chưa thể hiểu hết. Bác Can Túc, với nụ cười dếch miệng tinh nghịch, bí hiểm và có phần hồn nhiên, như người đã tìm ra một lẽ sống khác sau cái chết, một sự an ổn, nhẹ nhõm và thanh thản. Nụ cười ấy phủ lên cái chết một gam màu ấm áp, khiến cái chết không còn là bi kịch mà trở thành một sự hóa thân, tiếp nối. Triết lí nhân sinh trong truyện vì thế mang vẻ đẹp sâu lắng: cái nhìn nhẹ nhàng về sinh – tử, về sự tồn tại của con người trong vũ trụ mênh mông. Đó là một quan niệm thấm đẫm tính nhân văn, nhắc ta biết trân trọng sự sống và bình thản hơn khi nghĩ về cái chết, điều mỗi người đều phải đi qua.

Đoạn văn 200 chữ cảm nhận về triết lí nhân sinh được thể hiện trong câu chuyện Một trận bão cuối năm (Mẫu 2)

Trong truyện Một trận bão cuối năm, triết lí nhân sinh không được nói ra bằng lời mà lặng lẽ thấm vào người đọc qua khoảnh khắc ba chiếc thuyền ma trở về trong đêm giao thừa. Giữa biển đen mịt mùng, ba điểm sáng xanh bất ngờ mọc lên, rồi hóa thành những ngọn đèn vuông lặng lẽ trôi vào cửa lạch. Thuyền không sóng, người không tiếng động, tất cả như một cuộc trở về từ cõi xa xăm. Đối với dân chài, những người đã sống nhiều ngày trong tuyệt vọng và đau đớn, ấy là phút giây khiến lòng họ bỗng dịu lại: người thân của họ vẫn quay về, vẫn nhớ đến mái nhà nhỏ giữa làng biển. Nhưng chính trong sự trở về ấy, Bùi Hiển đã gửi gắm một suy ngẫm rộng lớn hơn: sự sống và cái chết vốn chỉ là hai nửa của một vòng tròn. Con người, sau khi rời bỏ dương gian, không biến mất mà bước vào một cõi khác, nơi vẫn có những bí mật, những niềm vui kỳ ảo và sự an ổn khó diễn tả. Hình ảnh bác Can Túc với nụ cười dếch miệng tinh nghịch càng làm sáng rõ quan niệm ấy. Cái chết đối với bác dường như không phải nỗi sợ mà là sự nhẹ nhõm, một cuộc vượt thoát khỏi trần thế đầy giông bão. Vì thế, câu chuyện không chỉ kể về nỗi đau sau một trận bão biển, mà còn mở ra một cách nhìn mới mẻ, nhân văn về lẽ sinh – tử: con người dù ở cõi nào cũng không hoàn toàn mất đi, mà vẫn tồn tại theo một cách khác, tiếp tục hành trình của mình trong vũ trụ vô biên.

Đoạn văn 200 chữ cảm nhận về triết lí nhân sinh được thể hiện trong câu chuyện Một trận bão cuối năm (Mẫu 3)

Trong truyện ngắn Một trận bão cuối năm của Bùi Hiển, triết lí nhân sinh không được tác giả trực tiếp giãi bày qua lời kể mà thấm đẫm trong hình tượng ba chiếc thuyền ma trở về trong đêm giao thừa. Khoảnh khắc những ngọn đèn xanh bí ẩn sáng lên giữa biển đêm, đưa những người thân đã mất về chào hỏi dân làng, chính là một niềm an ủi lớn lao cho những gia đình có chồng con bỏ mạng ngoài khơi. Đó không chỉ là hư ảo, là sự tưởng tượng của những người dân chài đau khổ, mà còn là sự gửi gắm niềm tin: cái chết không phải là kết thúc tuyệt đối. Bùi Hiển như muốn nói rằng sau cái chết vẫn còn một hành trình khác, một thế giới khác – “chốn vô cùng” bí ẩn nhưng cũng có thể an yên. Bác Can Túc, với nụ cười dếch đến tận mang tai, vừa tinh nghịch vừa vui vẻ, dường như đã tìm thấy sự thỏa mãn khi vượt qua mọi gian nguy, để lại trong lòng người sống một cảm giác nhẹ nhõm về sự sinh tử. Qua đó, nhà văn thể hiện một triết lí nhân sinh đầy nhân văn: sự sống và cái chết chỉ là hai nửa của hành trình tồn tại, và con người có thể đón nhận quy luật ấy với tâm thế thanh thản, không bi lụy. Đây là một cách nhìn sâu sắc, giàu tính nhân bản, giúp chúng ta thêm yêu quý sự sống và trân trọng sự tồn tại của mỗi kiếp người.

Đánh giá bài viết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Bói Chỉ Tay