Đề bài: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của em về hình ảnh người mẹ trong đoạn thơ
“Con bị thương, nằm lại một mùa mưa
Nhớ dáng mẹ ân cần mà lặng lẽ
Nhà yên ắng, tiếng chân đi rất nhẹ,
Gió từng hồi trên mái lá ùa qua.
[…]
Con xót lòng, mẹ hái trái bưởi đào
Con nhạt miệng, có canh tôm nấu khế
Khoai nướng, ngô bung, ngọt lòng đến thế
Mỗi ban mai toả khói ấm trong nhà.
Ba con đầu đi chiến đấu nơi xa
Tình máu mủ mẹ dồn con hết cả,
Con nói mơ những núi rừng xa lạ
Tinh ra rồi, có mẹ, hoả thành quê!
(Trích: Mẹ *, Bằng Việt, in trong Tác phẩm chọn lọc, Nxb Hội Nhà văn, Hà Nội, 2010)
Dàn ý đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của em về hình ảnh người mẹ trong đoạn thơ
-
Mở đoạn: Giới thiệu tác giả Bằng Việt và đoạn thơ. Nêu ấn tượng chung: Hình ảnh người mẹ hậu phương giàu tình thương, là điểm tựa tinh thần vững chãi cho người lính.
-
Thân đoạn:
-
Sự chăm sóc ân cần, lặng lẽ: Mẹ hiện lên với dáng vẻ “ân cần mà lặng lẽ”, những bước chân “đi rất nhẹ” để giữ sự yên tĩnh cho con nghỉ ngơi.
-
Sự thấu hiểu và nâng niu: Mẹ hiểu từng cảm giác của con (“xót lòng”, “nhạt miệng”) để mang đến những thức quà quê dân dã nhưng ngọt ngào: trái bưởi đào, canh tôm nấu khế, khoai nướng, ngô bung.
-
Tình thương dồn nén và bao la: Trong bối cảnh ba người con đầu đi xa, mẹ dồn hết tình máu mủ cho người con thương binh. Mẹ chính là “quê hương” thu nhỏ, biến những núi rừng xa lạ thành mái ấm thân thương.
-
-
Kết đoạn: Khẳng định giá trị nhân văn của hình tượng người mẹ: Biểu tượng cho hậu phương khiêm nhường mà vĩ đại.

Đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của em về hình ảnh người mẹ trong đoạn thơ (mẫu 1)
Cảm nhận về sự chăm sóc tận tụy và tinh tế của mẹ
Hình ảnh người mẹ trong đoạn thơ của Bằng Việt hiện lên với vẻ đẹp tâm hồn thuần hậu, là hiện thân của sự chăm sóc ân cần và tinh tế. Giữa một mùa mưa chiến trường khắc nghiệt, mẹ xuất hiện “lặng lẽ” với những bước chân “đi rất nhẹ”, như muốn bao bọc lấy sự yên bình cho đứa con đang bị thương. Sự thấu hiểu của mẹ đạt đến độ nhạy cảm diệu kỳ: mẹ biết con “xót lòng” mà hái trái bưởi, biết con “nhạt miệng” mà nấu canh khế, nhóm lên “khói ấm” của khoai nướng, ngô bung. Những món ăn bình dị ấy không chỉ nuôi dưỡng thân thể mà còn vỗ về tâm hồn người lính bằng hương vị quê hương đậm đà. Nghệ thuật sử dụng các tính từ gợi cảm và liệt kê các thức quà quê đã khắc họa một người mẹ chịu thương chịu khó, luôn chắt chiu những gì ngọt ngào nhất để sưởi ấm lòng con. Qua đó, ta thấy được tình mẫu tử chính là liều thuốc chữa lành mọi vết thương, biến gian khổ thành niềm hạnh phúc giản đơn.
Đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của em về hình ảnh người mẹ trong đoạn thơ (mẫu 2)
Cảm nhận về tình thương dồn nén và vai trò “hậu phương” của mẹ
Đoạn thơ đã chạm đến trái tim người đọc khi khắc họa hình ảnh người mẹ trong hoàn cảnh chiến tranh chia li, là biểu tượng cho sự hy sinh thầm lặng của người phụ nữ Việt Nam. Khi “ba con đầu đi chiến đấu nơi xa”, mọi tình cảm máu mủ, lo âu và hy vọng mẹ đều “dồn con hết cả”. Mẹ không chỉ chăm lo miếng ăn giấc ngủ mà còn là điểm tựa tâm linh vững chãi cho người lính. Ngay cả trong những cơn mơ về “núi rừng xa lạ”, chỉ cần tỉnh dậy có mẹ bên cạnh, mọi bất an đều tan biến, “hóa thành quê” hương thân thuộc. Hình ảnh “khói ấm” ban mai và bàn tay mẹ chăm chút đã biến ngôi nhà mái lá đơn sơ trở thành một pháo đài tình thương bất khả xâm phạm. Bằng giọng thơ thủ thỉ, tâm tình, Bằng Việt đã ca ngợi người mẹ như một bến đỗ bình yên, nơi kết tinh mọi giá trị văn hóa và tình nghĩa của dân tộc, tiếp thêm sức mạnh cho người lính tiếp tục vững bước trên con đường chiến đấu.
Đoạn văn (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của em về hình ảnh người mẹ trong đoạn thơ (mẫu 3)
Đánh giá vẻ đẹp nghệ thuật và sức lan tỏa của hình tượng mẹ
Bằng bút pháp giàu chất trữ tình và những hình ảnh thơ đậm đà phong vị dân tộc, Bằng Việt đã dựng lên chân dung một người mẹ vừa gần gũi vừa vĩ đại. Nghệ thuật đối lập giữa không gian bên ngoài “gió từng hồi ùa qua” với không gian bên trong “yên ắng”, “khói ấm” đã làm nổi bật vai trò che chở của mẹ. Những danh từ cụ thể như “trái bưởi đào”, “canh tôm”, “khoai nướng” không chỉ là vật chất mà là biểu tượng của lòng nhân hậu, sự chắt chiu của người mẹ nghèo. Cách gieo vần linh hoạt và nhịp thơ chậm rãi tạo nên một không gian hoài niệm đầy xúc động. Hình ảnh người mẹ ở đây không chỉ là người mẹ riêng của tác giả mà còn là hình ảnh đại diện cho các bà mẹ Việt Nam thời chiến: nhẫn nại, yêu thương và luôn là nơi trú ngụ cuối cùng của tâm hồn người con lính. Đoạn thơ khép lại nhưng dư vị về lòng biết ơn và niềm tự hào về người mẹ vẫn còn ngân vang, nhắc nhở chúng ta về sức mạnh của tình thân trong mọi nghịch cảnh.
