Đề bài: Viết đoạn văn (200 chữ) suy nghĩ của em về nhân vật Nguyễn Sinh trong câu chuyện Chuyện tình ở Thanh Trì
Tóm tắt phần đầu: Nguyễn Sinh người Thanh Trì, diện mạo đẹp đẽ, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Chàng sớm mồ cô cha, nhà nghèo nên học hành dang dở, chàng làm nghề chèo đò. Vì say đắm giọng hát và vẻ ưa nhìn của chàng nên cô con gái một nhà giàu họ Trần đã đem lòng yêu mến, sai người hầu đem khăn tay đến tặng, dặn chàng nhờ người mối manh đến hỏi. Nguyễn Sinh nhờ mẹ bảo người mối manh đến nhà nàng nhưng bố nàng chê chàng nghèo nên không nhận lời, còn dùng lời lẽ không hay để mắng bà mối. Chàng phẫn chí bỏ đi xa để lập nghiệp; cô gái biết chuyện âm thầm đau khổ chẳng thể giãi bày cùng ai, dần sinh bệnh, hơn một năm sau thì nàng qua đời.)
Trước khi nhắm mắt, nàng dặn cha:
– Trong ngực con chắc có một vật lạ. Sau khi con nhắm mắt, xin cha cho hỏa
táng để xem vật đó là vật gì?
Ông làm theo lời con. Khi lửa thiêu đã lụi, ông thấy trong nắm xương tàn, sót lại một vật, to bằng cái đấu, sắc đỏ như son, không phải ngọc cũng chẳng phải đá, nó trong như gương, búa đập không vỡ. Nhìn kĩ thì thấy trong khối ấy có hình một con đò, trên đò một chàng trai trẻ tuổi đang ngả đầu tựa mái chèo nằm hát. Nhớ lại việc nhân duyên trước kia của con, ông chợt hiểu ra vì chàng lái đò mà con gái ông chết, hối thì không kịp nữa. Ông bèn đóng một chiếc hộp con, cất khối đỏ ấy vào trong, đặt lên giường của con gái.
Nguyễn sinh bỏ nhà lên Cao Bằng làm khách của trấn tướng. Chàng vì hát hay nên được trấn tướng yêu quý. Hơn một năm sau, chàng dần dần có của nả, rồi lại mấy năm nữa tích cóp lại được hơn hai trăm lạng vàng. Chàng nghĩ: “Số vàng này đủ để chi dùng cho việc cưới xin”. Xong, chàng sửa soạn hành trang trở về. Đến nhà, chàng hỏi thăm ngay cô gái nọ. Được nghe tất cả đầu đuôi về nàng, chàng vô cùng đau đớn, vội sắm sửa lễ vật đến điếu nàng. Khi chàng làm lễ xong, bố cô có mời chàng ở lại dùng cơm. Chàng xin ông cho xem vật đã được cất giấu trong hộp con. Ông mở hộp lấy ra đưa chàng. Chàng nâng niu cầm lấy, lòng vô cùng xúc động, hai dòng lệ trào ra nhỏ xuống khối đá đỏ. Bỗng khối đá tan ra thành nước, giọt giọt đều biến thành máu tươi, chảy đầm đìa vào tay áo chàng. Chàng cảm kích mối tình của nàng, thề không lấy ai nữa.
(Trích Chuyện tình ở Thanh Trì, Lan Trì kiến văn lục, Vũ Trinh, in trong cuốn Văn xuôi tự sự Việt Nam thời trung đại, tập 1, Nguyễn Đăng Na giới thiệu và tuyển soạn, NXB Giáo dục, 1997, tr 424-426)
Dàn ý Đoạn văn 200 chữ suy nghĩ của em về nhân vật Nguyễn Sinh trong câu chuyện Chuyện tình ở Thanh Trì
1. Mở đoạn
-
Giới thiệu khái quát truyện Chuyện tình ở Thanh Trì của Vũ Trinh.
-
Dẫn vào nhân vật Nguyễn Sinh – một chàng trai nghèo nhưng tài hoa, giàu tình cảm, để lại nhiều xúc động.
2. Thân đoạn
-
Hoàn cảnh và phẩm chất của Nguyễn Sinh:
-
Xuất thân nghèo khó, sớm mồ côi cha, học hành dang dở nhưng có diện mạo đẹp, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào.
-
Là người lao động lương thiện, sống bằng nghề chèo đò, mang vẻ đẹp mộc mạc của con người bình dân.
-
-
Tình yêu và nỗi bi kịch của Nguyễn Sinh:
-
Yêu chân thành, trong sáng, không vụ lợi trước sự giàu sang của cô gái họ Trần.
-
Bị khước từ vì nghèo, chàng phẫn chí bỏ đi xa lập nghiệp, thể hiện lòng tự trọng và khát vọng vươn lên.
-
-
Vẻ đẹp nhân cách và sự thủy chung:
-
Khi thành đạt, trở về quê hương, chàng không quên mối tình cũ.
-
Trước cái chết của người con gái, Nguyễn Sinh đau đớn, cảm kích sâu sắc, thề không lấy ai nữa → tấm lòng chung thủy, nặng nghĩa tình.
-
3. Kết đoạn
-
Đánh giá nhân vật: Nguyễn Sinh là hình ảnh đẹp của người đàn ông tài hoa, giàu tình yêu, trọng nghĩa.
-
Nêu cảm xúc, suy nghĩ của em: nhân vật gợi niềm thương cảm cho số phận con người trong xã hội phong kiến và trân trọng những giá trị tình yêu chân thành.

Đoạn văn 200 chữ suy nghĩ của em về nhân vật Nguyễn Sinh trong câu chuyện Chuyện tình ở Thanh Trì (Mẫu 1)
Trong Chuyện tình ở Thanh Trì của Vũ Trinh, nhân vật Nguyễn Sinh để lại trong em nhiều suy nghĩ và xúc động sâu xa. Nguyễn Sinh trước hết hiện lên là một chàng trai bình dân nhưng hội tụ những vẻ đẹp đáng trân trọng: diện mạo ưa nhìn, tư chất thông minh, giọng hát ngọt ngào. Sinh ra trong cảnh nghèo khó, sớm mồ côi cha, phải bỏ dở việc học và sống bằng nghề chèo đò, nhưng ở Nguyễn Sinh vẫn toát lên vẻ tài hoa và nhân hậu của một con người lao động lương thiện. Chính vẻ đẹp mộc mạc ấy đã khiến cô gái họ Trần đem lòng yêu mến, mở ra một mối tình trong sáng, tự nhiên, không toan tính. Tuy nhiên, số phận của Nguyễn Sinh lại gắn liền với bi kịch của thân phận nghèo trong xã hội phong kiến. Khi bị gia đình nhà gái khước từ, thậm chí bị sỉ nhục vì nghèo, chàng không cam chịu van xin hay luồn cúi. Sự “phẫn chí” bỏ đi xa lập nghiệp cho thấy ở Nguyễn Sinh có lòng tự trọng, có khát vọng khẳng định giá trị bản thân bằng chính tài năng và nỗ lực của mình. Điều đó khiến em vừa thương vừa kính trọng nhân vật này. Đáng quý hơn cả là tấm lòng thủy chung, nặng nghĩa của Nguyễn Sinh. Khi đã thành đạt, tích góp đủ vàng bạc để nghĩ đến chuyện cưới xin, việc đầu tiên chàng làm khi trở về quê là hỏi thăm người con gái cũ. Trước cái chết của nàng, Nguyễn Sinh đau đớn, day dứt và xúc động đến tận cùng. Hình ảnh chàng nâng niu khối đá đỏ, nước mắt rơi xuống khiến khối đá tan thành máu tươi là một chi tiết giàu giá trị biểu tượng, cho thấy mối tình sâu nặng, bền chặt vượt qua cả sự sống và cái chết. Lời thề không lấy ai nữa của Nguyễn Sinh khẳng định một nhân cách đẹp: sống trọn nghĩa, trọn tình, không phản bội quá khứ.Qua nhân vật Nguyễn Sinh, em cảm nhận rõ niềm thương cảm cho những mối tình dang dở trong xã hội cũ, đồng thời thêm trân trọng vẻ đẹp của tình yêu chân thành, thủy chung và khát vọng sống có giá trị của con người.
Đoạn văn 200 chữ suy nghĩ của em về nhân vật Nguyễn Sinh trong câu chuyện Chuyện tình ở Thanh Trì (Mẫu 2)
Trong câu chuyện Chuyện tình ở Thanh Trì, nhân vật Nguyễn Sinh để lại trong em nhiều suy nghĩ và xúc cảm sâu xa. Nguyễn Sinh không phải là con người phi thường, quyền quý, mà là một chàng trai bình dị của làng quê Thanh Trì, song chính cuộc đời và nhân cách của chàng lại mang vẻ đẹp đáng trân trọng. Qua nhân vật này, tác giả đã khắc họa hình ảnh một con người tài hoa, giàu tình nghĩa nhưng chịu nhiều éo le, bất hạnh trong xã hội phong kiến đầy định kiến. Trước hết, Nguyễn Sinh hiện lên là một chàng trai có phẩm chất đáng quý. Dù sớm mồ côi cha, gia cảnh nghèo khó, học hành dang dở, chàng vẫn giữ được tư chất thông minh, vẻ ngoài tuấn tú và đặc biệt là giọng hát ngọt ngào. Làm nghề chèo đò vất vả nhưng Nguyễn Sinh không bi lụy, không tự ti mà sống bằng lao động chân chính. Ở chàng toát lên vẻ đẹp của người dân lao động tài hoa, giàu lòng tự trọng và có ý thức vươn lên trong cuộc sống. Trong tình yêu, Nguyễn Sinh là người chân thành và thủy chung. Khi nhận được tình cảm của cô gái họ Trần, chàng không lợi dụng hay nông nổi mà nghiêm túc nhờ người mối manh sang hỏi cưới theo đúng lễ nghĩa. Bị gia đình nhà gái khinh rẻ, sỉ nhục vì nghèo, Nguyễn Sinh phẫn chí bỏ đi xa lập nghiệp. Hành động ấy thể hiện lòng tự trọng cao đẹp, không cam chịu sống trong sự coi thường, đồng thời cũng cho thấy khát vọng đổi đời chính đáng của chàng. Đáng tiếc thay, sự ra đi ấy lại trở thành bước ngoặt bi thương, khiến mối tình đẹp bị dang dở và dẫn đến cái chết oan khuất của người con gái. Khi trở về với của cải đủ đầy, hay tin người mình yêu đã qua đời, Nguyễn Sinh rơi vào nỗi đau tột cùng. Chàng khóc thương nàng bằng tất cả sự chân thành, day dứt và ân hận. Chi tiết chàng nâng niu khối đá đỏ, để nước mắt làm tan nó thành máu tươi là một hình ảnh đầy ám ảnh, cho thấy tình yêu sâu nặng và sự đồng cảm muộn màng của Nguyễn Sinh trước mối tình bi kịch. Lời thề không lấy ai nữa khẳng định lòng thủy chung son sắt, khiến hình ảnh chàng càng trở nên cao đẹp và đáng thương. Nguyễn Sinh là nạn nhân của lễ giáo phong kiến hà khắc, nơi đồng tiền và địa vị đã chà đạp lên tình yêu chân thành. Qua nhân vật này, em vừa cảm phục trước nhân cách trong sáng, giàu nghĩa tình của Nguyễn Sinh, vừa xót xa cho một mối tình đẹp không thể trọn vẹn. Câu chuyện khiến em nhận ra rằng, hạnh phúc con người đôi khi rất mong manh trước những định kiến xã hội, và tình yêu chân thật luôn xứng đáng được trân trọng, gìn giữ.
