Viết đoạn văn 200 chữ nhận xét về nghệ thuật lập luận của tác giả Nguyễn An Ninh trong văn bản Tiếng mẹ đẻ

Đề bài: Anh/ chị hãy viết một đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ), trình bày nhận xét về nghệ thuật lập luận của tác giả Nguyễn An Ninh trong văn bản Tiếng mẹ đẻ:

Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức

Nguyễn An Ninh

Nhiều người An Nam thích bập bẹ năm ba tiếng Tây hơn là diễn tả ý tưởng cho mạch lạc bằng tiếng nước mình. Hình như đối với họ, việc sử dụng Pháp ngữ là một dấu hiệu thuộc giai cấp quý tộc, cũng như sử dụng nước suối Pe-ri-ê (Pérrier) và rượu khai vị biểu trưng cho nền văn minh châu Âu. Nhiều người An Nam bị Tây hoá hiện nay tưởng rằng khi cóp nhặt những cái tầm tường của phong hoá châu Âu họ sẽ làm cho đồng bào của mình tin là họ đã được đào tạo theo kiểu Tây phương.

Thái độ mù tịt về văn hoá châu Âu như thế không nên làm chúng ta ngạc nhiên. Vì chỉ có những người đã hiểu biết vững một nền văn hoá rồi mới có khả năng thưởng thức một nền văn hoá ngoại bang. Những kiểu kiến trúc và trang trí lai căng của những ngôi nhà thuộc về những người An Nam được hun đúc theo cái mà những người ở Đông Dương gọi là văn minh Pháp, chứng tỏ rằng những người An Nam bị Tây hoá chẳng có được một thứ văn minh nào. Việc từ bỏ văn hoá cha ông và tiếng mẹ đẻ phải làm cho mọi người An Nam tha thiết với giống nòi lo lắng.

Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị. Nếu người An Nam hãnh diện giữ gìn tiếng nói của mình và ra sức làm cho tiếng nói ấy phong phú hơn để có khả năng phổ biến tại An Nam các học thuyết đạo đức và khoa học của châu Âu, việc giải phóng dân tộc An Nam chỉ còn là vấn đề thời gian. Bất cứ người An Nam nào vứt bỏ tiếng nói của mình, thì cũng đương nhiên khước từ niềm hi vọng giải phóng giống nòi. […] Vì thế, đối với người An Nam chúng ta, chối từ tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối sự tự do của mình…

Nhiều đồng bào chúng ta, để biện minh việc từ bỏ tiếng mẹ đẻ, đã than phiên rằng tiếng nước mình còn nghèo nàn. Lời trách cứ này không có cơ sở nào cả. Họ chỉ biết những từ thông dụng của ngôn ngữ và còn nghèo những từ An Nam hơn bất cứ người phụ nữ và nông dân An Nam nào. Ngôn ngữ của Nguyễn Du nghèo hay giàu?

Vì sao người An Nam có thể dịch những tác phẩm Trung Quốc sang nước mình, mà lại không thể viết những tác phẩm tương tự?

Phải quy lỗi cho sự nghèo nàn của ngôn ngữ hay sự bất tài của con người?

Ở An Nam cũng như mọi nơi khác, đều có thể ứng dụng nguyên tắc này:

“Điều gì người ta suy nghĩ kĩ sẽ diễn đạt rõ ràng, và dễ dàng tìm thấy những từ để nói ra”. […]

Chúng ta không thể tránh né châu Âu, vai trò hướng đạo của giới trí thức chúng ta buộc họ phải biết ít nhất là một ngôn ngữ châu Âu để hiểu được châu Âu. Nhưng những kiến thức thu thập được, họ không được giữ riêng cho mình. Đồng bào của họ cũng phải được thông phần nữa. Tuy nhiên, sự cần thiết phải biết một ngôn ngữ châu Âu hoàn toàn không kéo theo chuyện từ bỏ tiếng mẹ đẻ. Ngược lại, thứ tiếng nước ngoài mà mình học được phải làm giàu cho ngôn ngữ nước mình. […]

(Trích “Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức” – Nguyễn An Ninh)

Đoạn văn 200 chữ nhận xét về nghệ thuật lập luận của tác giả Nguyễn An Ninh trong văn bản Tiếng mẹ đẻ

Bài làm Đoạn văn 200 chữ nhận xét về nghệ thuật lập luận của tác giả Nguyễn An Ninh trong văn bản Tiếng mẹ đẻ

1. Mở đoạn: Giới thiệu về văn bản và vị trí lập luận của tác giả

  • Văn bản Tiếng mẹ đẻ – nguồn giải phóng các dân tộc bị áp bức của Nguyễn An Ninh là một tác phẩm chính luận xuất sắc, phản ánh tư tưởng yêu nước, bảo vệ tiếng mẹ đẻ và văn hóa dân tộc.

  • Nguyễn An Ninh sử dụng nghệ thuật lập luận tinh tế để thuyết phục người đọc, đặc biệt là tầng lớp trí thức, nhận thức rõ vai trò của tiếng Việt trong giải phóng dân tộc.

2. Thân đoạn:

+ Kết cấu chặt chẽ

  • Văn bản được chia thành các phần: nêu thực trạng, phân tích nguyên nhân, dẫn chứng, kết luận, giúp người đọc dễ theo dõi và thuyết phục.

  • Luận điểm xuyên suốt: bảo vệ tiếng mẹ đẻ, từ chối tiếng mẹ đẻ đồng nghĩa với từ chối tự do dân tộc.

+ Luận điểm rõ ràng

  • Nguyễn An Ninh sử dụng dẫn chứng cụ thể về hiện tượng người An Nam “bập bẹ năm ba tiếng Tây” hay “lai căng kiến trúc kiểu Tây” để minh họa cho sự mù tịt về văn hóa phương Tây.

  • Phân tích sự nghèo nàn ngôn ngữ là do con người chưa vận dụng, không phải do tiếng Việt, dẫn dắt người đọc đi từ thực tế cụ thể tới kết luận chính trị – văn hóa.

+ Lập luận giàu sức thuyết phục

  • Khi châm biếm: “Thái độ mù tịt về văn hoá châu Âu như thế không nên làm chúng ta ngạc nhiên.”

  • Khi tha thiết, nhấn mạnh: “Việc từ bỏ văn hoá cha ông và tiếng mẹ đẻ phải làm cho mọi người An Nam tha thiết với giống nòi lo lắng.”

  • Khi thể hiện niềm tự hào: “Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc.”

+ Bằng chứng thực tế sinh động, tác động trực tiếp vào nhận thức của tầng lớp tri thức lúc bấy giờ.

+ Ngôn ngữ linh hoạt, sắc bén vừa mạnh mẽ, dứt khoát; vừa thấm đẫm cảm xúc.

+Quan điểm, lập trường rõ ràng, nhất quán: khi châm biếm, mỉa mai nhẹ nhàng: “Thái độ mù tịt về văn hoá châu Âu như thế không nên làm chúng ta ngạc nhiên.”; khi lại châm thành, tha thiết: “Việc từ bỏ văn hoá cha ông và tiếng mẹ đẻ phải làm cho mọi người An Nam tha thiết với giống nòi lo lắng.”; khi lại thể hiện rõ niềm tự hào, tình yêu tha thiết dành cho tiếng Việt: “Tiếng nói là người bảo vệ quý báu nhất nền độc lập của các dân tộc, là yếu tố quan trọng nhất giúp giải phóng các dân tộc bị thống trị”

⇒bài viết với phong cách chính luận xuất sắc

3. Kết đoạn: Nhận xét tổng quát

  • Nghệ thuật lập luận của Nguyễn An Ninh trong văn bản vừa logic, vừa giàu sức thuyết phục, kết hợp dẫn chứng cụ thể và ngôn ngữ giàu cảm xúc.

  • Qua đó, văn bản truyền tải tư tưởng yêu nước, khơi gợi niềm tự hào về tiếng mẹ đẻ và văn hóa dân tộc một cách sâu sắc.

Đánh giá bài viết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Bói Chỉ Tay