Đề bài: Viết đoạn văn 200 chữ nêu cảm nhận của em về đoạn trích sau:
(1) Quê hương tôi có cây bầu cây nhị
Có tiếng đàn kêu “tích tịch tình tang…”
Có cô Tấm náu mình trong quả thị,
Có người em may túi đúng ba gang.
(2) Quê hương tôi có ca dao tục ngữ,
Ông trăng tròn thường xuống mọi nhà chơi.
Một đĩa muối cũng mặn tình chồng vợ,
Một dây trầu cũng nhắc chuyện lứa đôi.
(3) Con chim nhỏ cũng đau hồn nước mất.
“Cuốc cuốc” kêu rỏ máu những đêm vàng
Chân ngựa đá cũng dính bùn trận mạc.
Theo người đi cứu nước chống xâm lăng.
(4) Quê hương tôi có bà Trưng, bà Triệu
Cưỡi đầu voi, dấy nghĩa, trả thù chung.
Ông Lê Lợi đã trường kỳ kháng chiến,
Hưng Đạo vương đã mở hội Diên Hồng.
(5) Quê hương tôi có múa xoè, hát đúm,
Có hội xuân liên tiếp những đêm chèo.
Có Nguyễn Trãi, có “Bình Ngô đại cáo”.
Có Nguyễn Du và có một “Truyện Kiều”.
(Trích “Bài thơ quê hương”, Nguyễn Bính,)

Đoạn văn 200 chữ nêu cảm nhận của em về đoạn trích “Bài thơ quê hương”(mẫu 1)
Đoạn trích trong “Bài thơ quê hương” của Nguyễn Bính là một bản giao hưởng ngọt ngào, khơi gợi trong em những ký ức tuổi thơ gắn liền với văn hóa dân tộc. Tác giả đã định nghĩa quê hương không phải bằng những khái niệm khô khan, mà bằng hơi thở của những câu chuyện cổ tích và âm vang nghệ thuật truyền thống. Hình ảnh “cô Tấm”, “túi ba gang” hiện lên sống động, đưa ta về với bầu sữa tinh thần của người Việt từ ngàn đời. Quê hương ấy còn là nơi trú ngụ của những nghĩa tình giản dị, nơi một “đĩa muối”, một “dây trầu” cũng đủ làm nên sự gắn kết thủy chung của đạo vợ chồng. Đặc biệt, vẻ đẹp của quê hương còn được nâng tầm qua dòng chảy văn hiến với những đêm chèo, điệu múa xòe và những kiệt tác như “Truyện Kiều”, “Bình Ngô đại cáo”. Nguyễn Bính đã cho thấy một cái nhìn đầy tự hào: quê hương chính là nơi bảo tồn những giá trị tinh hoa của nhân loại và dân tộc. Đọc đoạn thơ, em thêm trân trọng bản sắc văn hóa quê mình và cảm nhận được rằng, chính văn hóa đã làm nên tâm hồn và diện mạo của một đất nước không bao giờ phai nhạt theo thời gian.
Đoạn văn 200 chữ nêu cảm nhận của em về đoạn trích “Bài thơ quê hương”(mẫu 2)
Nếu coi quê hương là một cơ thể sống, thì tinh thần yêu nước chính là dòng máu nóng chảy suốt đoạn trích thơ của Nguyễn Bính. Em đặc biệt ấn tượng với cách nhà thơ nhân hóa thiên nhiên để cùng đau nỗi đau mất nước: “con chim nhỏ cũng đau hồn nước mất”, “chân ngựa đá cũng dính bùn trận mạc”. Hình ảnh ấy cho thấy sự gắn bó máu thịt giữa thiên nhiên và con người trong vận mệnh dân tộc. Từ những hình tượng huyền thoại, tác giả dẫn dắt ta đến với những trang sử vàng chói lọi của Hai Bà Trưng, Bà Triệu, Lê Lợi và Hưng Đạo Vương. Những địa danh, những tên tuổi lẫy lừng như “hội Diên Hồng” hay cuộc “trường kỳ kháng chiến” đã tạc nên một chân dung quê hương quật cường, kiêu hãnh. Quê hương trong thơ Nguyễn Bính là sự kết hợp hài hòa giữa cái mềm mại của lời ca tiếng hát với cái cứng cỏi của ý chí chống xâm lăng. Đoạn thơ không chỉ bồi đắp lòng tự hào dân tộc mà còn nhắc nhở em về trách nhiệm của thế hệ hôm nay: phải sống sao cho xứng đáng với mảnh đất đã từng thấm đẫm mồ hôi, máu và cả những giấc mơ anh hùng của cha ông.
