Đề bài: Viết đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá diễn biến tâm trạng của nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn trích
…Bà lão cúi đầu nín lặng. Bà lão hiểu rồi. Lòng người mẹ nghèo khổ ấy còn hiểu ra biết bao nhiêu cơ sự, vừa ai oán vừa xót thương cho số kiếp đứa con mình. Chao ôi, người ta dựng vợ gả chồng cho con là lúc trong nhà ăn nên làm nổi, những mong sinh con đẻ cái mở mặt sau này. Còn mình thì… Trong kẽ mắt kèm nhèm của bà rỉ xuống hai dòng nước mắt… Biết rằng chúng nó có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không.
Bà lão khẽ thở dài ngửng lên, đăm đăm nhìn người đàn bà. Thị cúi mặt xuống, tay vân vê tà áo đã rách bợt. Bà lão nhìn thị và bà nghĩ: Người ta có gặp bước khó khăn, đói khổ này, người ta mới lấy đến con mình. Mà con mình mới có vợ được… Thôi thì bổn phận bà là mẹ, bà đã chẳng lo lắng được cho con… May ra mà qua khỏi được cái tao đoạn này thì thằng con bà cũng có vợ, nó yên bề nó, chẳng may ra ông giời bắt chết cũng phải chịu chứ biết thế nào mà lo cho hết được ?
Bà lão khẽ dặng hắng một tiếng, nhẹ nhàng nói với “nàng dâu mới” :
– Ừ, thôi thì các con đã phải duyên phải kiếp với nhau, u cũng mừng lòng…
Tràng thở đánh phào một cái (…) Bà cụ Tứ vẫn từ tốn tiếp lời:
– Nhà ta thì nghèo con ạ. Vợ chồng chúng mày liệu mà bảo nhau làm ăn. Rồi ra may mà ông giời cho khá… Biết thế nào hở con, ai giàu ba họ, ai khó ba đời ? Có ra thì rồi con cái chúng mày về sau”.
Bà lão đăm đăm nhìn ra ngoài. Bóng tối trùm lấy hai con mắt. Ngoài xa dòng sông sáng trắng uốn khúc trong cánh đồng tối. Mùi đốt đống rấm ở những nhà có người chết theo gió thoảng vào khét lẹt. Bà lão thở nhẹ ra một hơi dài. Bà lão nghĩ đến ông lão, nghĩ đến đưa con gái út. Bà lão nghĩ đến cuộc đời cực khổ dài dằng dặc của mình. Vợ chồng chúng nó lấy nhau, cuộc đời chúng nó liệu có hơn bố mẹ trước kia không?…
(Trích Vợ nhặt, Kim Lân,Ngữ văn 12, Tập hai, NXB Giáo dục, 2013)
Dàn ý đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá diễn biến tâm trạng của nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn trích
-
Mở đoạn: Giới thiệu nhân vật bà cụ Tứ và bối cảnh đoạn trích (Tràng đưa vợ nhặt về ra mắt).
-
Thân đoạn:
-
Nỗi xót xa, ai oán: “Bà lão cúi đầu nín lặng”, bà hiểu ra bao “cơ sự”. Bà buồn cho số kiếp đứa con vì đói khổ mà phải “nhặt” vợ, khóc cho sự bất lực của người mẹ không lo nổi chuyện đại sự cho con.
-
Lòng bao dung và nhân hậu: Nhìn người đàn bà rách rưới, bà không khinh rẻ mà cảm thông: “Người ta có gặp bước khó khăn… người ta mới lấy đến con mình”. Bà nén nỗi lo để nói lời vun vén: “u cũng mừng lòng”.
-
Sự lạc quan nhen nhóm: Bà dùng triết lý dân gian “ai giàu ba họ, ai khó ba đời” để an ủi các con, gieo mầm hy vọng vào tương lai.
-
Nỗi lo âu ám ảnh: Ánh mắt nhìn ra “bóng tối”, mùi đốt đống rấm người chết khiến bà chạnh lòng nghĩ về quá khứ và lo cho tương lai mịt mù của các con.
-
-
Kết đoạn: Đánh giá nghệ thuật miêu tả tâm lý tinh tế, khẳng định vẻ đẹp tâm hồn của người mẹ nghèo Việt Nam: giàu tình thương và đức hy sinh.

Phân tích sự chuyển biến từ ngỡ ngàng sang thấu hiểu và bao dung
Diễn biến tâm trạng bà cụ Tứ bắt đầu từ thái độ “níu lặng” để rồi vỡ òa trong nỗi xót thương. Khi hiểu ra “cơ sự”, bà lão không chỉ thương con mà còn thương cho chính mình. Hai dòng nước mắt “rỉ xuống” là kết tinh của sự tủi phận và nỗi lo âu trước ranh giới mong manh giữa sự sống và cái chết. Tuy nhiên, vượt lên trên nỗi sợ hãi, lòng bao dung của người mẹ đã chiến thắng. Bà nhìn người con dâu bằng con mắt đầy lòng trắc ẩn, nhận ra rằng trong cơn khốn cùng, người ta mới tìm đến nhau. Lời nói “u cũng mừng lòng” không chỉ là sự chấp nhận mà còn là vòng tay ấm áp che chở cho đôi trẻ. Tâm trạng của bà cụ Tứ là sự giao thoa cảm động giữa nỗi đau thân phận và sức mạnh của tình mẫu tử thiêng liêng.
Đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá diễn biến tâm trạng của nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn trích (Mẫu 2)
Phân tích niềm hy vọng mong manh giữa bóng tối của cái đói
Trong đoạn trích, tâm trạng bà cụ Tứ hiện lên với vẻ đẹp lấp lánh của niềm hy vọng dù xung quanh là bóng tối bao trùm. Dù lòng đầy trăn trở về việc “liệu có nuôi nổi nhau sống qua được cơn đói khát này không”, bà vẫn cố gắng thắp lên ánh sáng cho các con. Câu hỏi “ai giàu ba họ, ai khó ba đời” là một lời động viên đầy triết lý, thể hiện bản năng sống mãnh liệt của người nông dân. Bà cụ Tứ không chỉ đóng vai trò người mẹ mà còn là điểm tựa tinh thần, cố gắng xua đi không khí “khét lẹt” của chết chóc để hướng các con về phía sự sống. Diễn biến tâm lý đi từ lo âu đến hy vọng đã cho thấy bản chất lạc quan, nhân hậu của những con người nghèo khổ ngay cả khi đứng bên bờ vực của vực thẳm.
Đoạn văn (khoảng 200 chữ) phân tích, đánh giá diễn biến tâm trạng của nhân vật bà cụ Tứ trong đoạn trích (Mẫu 3)
Đánh giá nghệ thuật khắc họa nội tâm nhân vật của Kim Lân
Kim Lân đã chứng tỏ sự am hiểu sâu sắc về tâm lý người nông dân qua việc miêu tả những luồng suy nghĩ đan xen của bà cụ Tứ. Diễn biến tâm trạng nhân vật được đặt trong sự tương phản giữa cái tĩnh lặng của “cúi đầu nín lặng” và cái dữ dội của những cơn sóng lòng. Tác giả đã sử dụng những chi tiết ngoại hiện như “kẽ mắt kèm nhèm”, “dặng hắng một tiếng” để lột tả sự chuyển biến từ nỗi “ai oán” sang sự “từ tốn” khuyên bảo. Tâm trạng bà lão không phẳng lặng mà đầy những khoảng lặng, những tiếng thở dài và cái nhìn “đăm đăm” ra bóng tối đêm đen. Chính nghệ thuật miêu tả tâm lý tinh tế này đã khắc họa thành công hình tượng người mẹ Việt Nam: dù cuộc đời là “chuỗi dài dằng dặc” cực khổ, bà vẫn giữ trọn tấm lòng vị tha và khát vọng về hạnh phúc cho con cái.
