Đề bài: Viết đoạn văn nghị luận 200 chữ nhận xét về tình cảm của Nguyễn Du đối với nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích sau:
Khi tỉnh rượu lúc tàn canh,
Giật mình, mình lại thương mình xót xa.
Khi sao phong gấm rủ là,
Giờ sao tan tác như hoa giữa đường.
Mặt sao dày gió dạn sương
Thân sao bướm chán ong chường bấy thân!
Mặc người mưa Sở mây Tần,
Những mình nào biết có xuân là gì.
Đòi phen gió tựa hoa kề,
Nửa rèm tuyết ngậm bốn bể trăng thâu.
Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu,
Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?
Đòi phen nét vẽ câu thơ,
Cung cầm trong nguyệt nước cờ dưới hoa.
Vui là vui gượng kẻo là,
Ai tri âm đó mặn mà với ai?
(Trích Truyện Kiều, Nguyễn Du, NXB Văn học, 2018)

Đoạn văn nghị luận 200 chữ nhận xét về tình cảm của Nguyễn Du đối với nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích Khi tỉnh rượu lúc tàn canh… (mẫu 1)
Trong đoạn trích, tình cảm của Nguyễn Du dành cho Thúy Kiều hiện lên qua cái nhìn nhân đạo sâu sắc và sự thấu cảm tuyệt đối. Nhà thơ không nhìn Kiều bằng con mắt của một người quan sát khách quan mà dường như đã “hóa thân” vào nàng để lắng nghe từng nhịp đập đau đớn của trái tim. Qua cụm từ “mình lại thương mình”, Nguyễn Du đã nâng niu, trân trọng sự tự ý thức về nhân phẩm của Kiều – một điều hiếm thấy trong văn học phong kiến vốn coi nhẹ cá tính. Ông xót xa trước nghịch cảnh “tan tác như hoa giữa đường” và thấu suốt nỗi cô đơn đến cùng cực của nàng khi phải “vui gượng” giữa chốn lầu xanh nhơ nhớp. Bằng cách sử dụng những câu hỏi tu từ dồn dập, Nguyễn Du như đang cùng Kiều chất vấn định mệnh, thể hiện một tấm lòng bao dung, không hề rẻ rúng mà trái lại, vô cùng trân trọng một tâm hồn thanh cao đang bị vùi dập. Đó là tình cảm của một nghệ sĩ lớn dành cho một đóa hoa tài sắc nhưng bạc mệnh.
Đoạn văn nghị luận 200 chữ nhận xét về tình cảm của Nguyễn Du đối với nhân vật Thúy Kiều trong đoạn trích Khi tỉnh rượu lúc tàn canh… (mẫu 2)
Tình cảm của Nguyễn Du đối với Thúy Kiều trong đoạn thơ không chỉ là niềm xót thương cho số phận mà còn là sự ngợi ca vẻ đẹp tâm hồn bền bỉ của nàng. Giữa cảnh “mưa Sở mây Tần”, Nguyễn Du đã tinh tế nhận ra Kiều vẫn giữ được một “điểm sáng” nhân phẩm khi nàng cảm thấy nhục nhã, ê chề thay vì buông xuôi theo số kiếp. Qua hai câu thơ “Cảnh nào cảnh chẳng đeo sầu / Người buồn cảnh có vui đâu bao giờ?”, nhà thơ đã khẳng định sự gắn kết chặt chẽ giữa tâm hồn Kiều với thế giới xung quanh, coi nàng là một thực thể sống động có chiều sâu cảm xúc. Ông trân trọng khao khát tìm kiếm “tri âm” của nàng, hiểu rằng nỗi đau lớn nhất của Kiều không phải là thể xác bị đày đọa mà là sự cô độc về tinh thần. Tình cảm ấy chính là tinh thần nhân văn cao cả: nhìn thấy con người trong hình hài một kỹ nữ, nhìn thấy sự thánh thiện ngay trong vũng bùn tanh tưởi, từ đó lên tiếng bênh vực và sẻ chia với nỗi đau nhân thế.
