Đề bài: Viết đoạn văn nghị luận 200 chữ phân tích, đánh giá một nét nghệ thuật trong đoạn trích “ Cô hàng xén” của Thạch Lam.
CÔ HÀNG XÉN1
( Trích )
-Thạch Lam-
[…]
Bữa cơm ngon lành quá. Tâm ngồi ăn dưới con mắt hiền từ và thương mến của mẹ. Các em cô quây quần cả chung quanh, hỏi chuyện chợ búa của chị. Tâm ngắm nghía các nét mặt xinh xẻo, những con mắt thơ ngây lóng lánh dưới mái tóc tơ của các em: cô thấy lòng đầm ấm và tự kiêu, lòng người chị chịu khó nhọc để kiếm tiền nuôi các em ăn học […]
Tâm biết mình xinh nhất chợ. Bọn con trai cứ hay quanh quẩn chỗ cô ngồi và buông lời chòng ghẹo. Nhưng cô không để ý: Tâm thấy vững vàng ở giá trị và lòng cao quý của mình. Nàng đã đảm đang nuôi cả một nhà, với lại, trừ phi là cô gái hư không kể, còn ai ở địa vị nàng cũng phải tảo tần buôn bán như thế. [….]
Sáng sớm hôm sau, trong gió bấc lạnh, Tâm đã mở cổng gánh hàng lên chợ. Sương trắng còn đầy ở các ngõ trong làng; mùi rơm rác và cỏ ướt thoang thoảng bốc lên, mùi quen của quê hương và của đất mầu khiến Tâm thấy dễ chịu và thêm can đảm. Nàng rảo bước cho mau chóng đến chợ.
Cái đòn gánh cong xuống vì hàng nặng, kĩu kịt trên mảnh vai nhỏ bé theo nhịp điệu của bước đi. Chịu khó, chịu khó từng tí một, hết bước nọ sang bước kia, cứ thế mà đi không nghĩ ngợi. Tâm thấy ngày nay cũng như mọi ngày, ngày mai cũng thế nữa; tất cả cuộc đời nàng lúc nào cũng chịu khó và hết sức, như tấm vải thô dệt đều nhau. Có phải đâu chỉ một mình cô; trong những lũy tre xanh kia, bao nhiêu người cũng như cô, cũng phải chịu khó và nhọc nhằn, để kiếm tiền nuôi chồng, nuôi con, nuôi các em. [….]
Ngày về nhà chồng, Tâm buồn rầu không thiết gì trang điểm. Nàng gọi các em vào trong buồng để từ biệt: Lân và Ái níu lấy cổ, Tâm quấn quýt không muốn rời ra. Nàng âu yếm dặn dò:
– Các em ở nhà chịu khó ăn học nhé, đừng để cho thầy u phải phiền lòng. Rồi tháng tháng chị sẽ gửi tiền về cho các em tiêu. […]
Về nhà chồng được vài hôm, Tâm lại phải đi bán hàng ngay để khỏi mất mấy phiên chợ tết. Nhà chồng nàng cũng nghèo, nhà cửa không có gì. Cậu Bài dạy học trong làng được dăm bảy đồng bạc lương. Bao nhiêu việc chi tiêu trong nhà lại trông cả vào mình nàng.
Bây giờ gánh hàng trở nên nặng quá trên đôi vai nhỏ bé. Chiếc đòn gánh càng cong xuống và rên rỉ. Ngoài giang sơn nhà chồng nàng phải gánh vác, Tâm lại còn lo sao kiếm được đủ tiền để thêm cho các em ăn học. Trong sương muối sớm rét và giá lạnh, nàng đã phải bước ra ngõ để đi chợ rồi. Trên con đường mấp mô và đất rắn, Tâm bước những bước nhỏ và mau. Đời nàng lại khó nhọc và cố sức kế tiếp nhau.
( Tóm đoạn cuối: Tâm sinh con, chồng Tâm lại thôi dạy học, gánh nặng càng trút lên nàng. Lần trở về thăm nhà, thương Lân lên tỉnh học không có tiền, Tâm đưa hết số tiền định trang trải các công nợ và lo sưu thuế cho Bài, nàng đưa hết cho em. Trên đường về nhà, Cái vòng đen của rặng tre làng Bàng bỗng vụt hiện lên trước mặt, tối tăm và dầy đặc. Tâm buồn rầu nhìn thấu cả cuộc đời nàng, cuộc đời cô hàng xén từ tuổi trẻ đến tuổi già toàn khó nhọc và lo sợ, ngày kia như tấm vải thô sơ. Nàng cúi đầu đi mau trong ngõ tối.)
(Trích “Cô hàng xén”–Thạch Lam2, NXB Văn hóa Thông tin, 2007, tr. 164-165)

Đoạn văn nghị luận 200 chữ phân tích, đánh giá một nét nghệ thuật trong đoạn trích “ Cô hàng xén” của Thạch Lam.(mẫu 1)
Trong đoạn trích “Cô hàng xén”, Thạch Lam đã rất thành công khi sử dụng nghệ thuật xây dựng hình ảnh biểu tượng để khắc họa cuộc đời nhân vật Tâm. Hình ảnh chiếc “đòn gánh cong xuống” và “tấm vải thô” xuất hiện lặp lại như một ám ảnh nghệ thuật về thân phận người phụ nữ. Nếu ở đầu đoạn trích, chiếc đòn gánh nhịp nhàng theo bước chân can đảm của cô gái trẻ, thì đến khi lấy chồng, nó lại trở nên “nặng quá” và “rên rỉ” trên đôi vai nhỏ bé. Cách so sánh cuộc đời như “tấm vải thô dệt đều nhau” hay “tấm vải thô sơ” là một sáng tạo độc đáo, gợi lên sự tẻ nhạt, đơn điệu và nhọc nhằn nối tiếp nhau không dứt. Nghệ thuật điệp cấu trúc qua các cụm từ “chịu khó”, “cố sức” nhấn mạnh đức tính hy sinh cao quý nhưng cũng đầy bi kịch của Tâm. Qua những hình ảnh đầy sức gợi này, nhà văn không chỉ miêu tả một công việc buôn bán đơn thuần mà còn khái quát hóa số phận của bao người phụ nữ trong lũy tre xanh: âm thầm, tận tụy và chịu đựng. Những biểu tượng ấy giúp chủ đề tác phẩm trở nên sâu sắc, khơi gợi niềm cảm thương chân thành trong lòng độc giả.
Đoạn văn nghị luận 200 chữ phân tích, đánh giá một nét nghệ thuật trong đoạn trích “ Cô hàng xén” của Thạch Lam.(mẫu 2)
Nét đặc sắc làm nên sức hấp dẫn của đoạn trích “Cô hàng xén” chính là nghệ thuật trần thuật giàu chất trữ tình, hòa quyện giữa cảnh vật và nội tâm nhân vật. Thạch Lam không kể chuyện bằng những xung đột kịch tính mà dẫn dắt người đọc vào thế giới cảm xúc man mác buồn của nhân vật Tâm. Ngòi bút của ông vô cùng tinh tế khi mượn ngoại cảnh để ngụ tình: mùi rơm rác, cỏ ướt khiến Tâm thấy “dễ chịu và thêm can đảm”, nhưng đến cuối đoạn trích, hình ảnh “cái vòng đen của rặng tre” và “ngõ tối” lại phản chiếu sự bế tắc, lo sợ về một tương lai mịt mù. Ngôn ngữ văn xuôi của Thạch Lam nhịp nhàng, uyển chuyển như những vần thơ, len lỏi vào từng ngóc ngách tâm hồn để diễn tả lòng tự trọng và sự tảo tần của nàng. Sự kết hợp giữa cái thực (chợ búa, tiền nong, thuế khóa) và cái mộng (hương vị quê hương, tình cảm gia đình) tạo nên một phong cách riêng biệt. Chính chất trữ tình đậm nét này đã giúp tác phẩm vượt lên trên ý nghĩa một câu chuyện đời thường, trở thành bài ca cảm động về vẻ đẹp tâm hồn và sự hy sinh thầm lặng của người phụ nữ Việt Nam xưa.
