Đề bài: Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) làm rõ đặc điểm của nhân vật truyện ngắn trong văn bản sau:
Bài học quét nhà
(Tóm lược đoạn trước: Hồng đang thẩn thơ chơi một mình ở trong vườn… Hồng chỉ chơi có một mình. Chị Thảo về rồi. (Thảo là con ở trước kia vẫn giữ em Hồng). Hồng thấy thầy u dạo này hay gắt quá. Trước đó không như vậy. Hồng không hiểu vì sao. U hay mắng. Thầy hay đăm chiêu. Có lần thầy chán nản bảo u: “Tình hình nguy lắm rồi, mình ạ. Tôi sợ khó mà được hết năm nay”. Rồi thầy u cho chị Thảo về quê và nói Hồng đã gần 5 tuổi, có thể trông được em. Một lần mẹ sai Hồng quét nhà. Hồng lóng ngóng. Mẹ quát mắng và còn định tát Hồng. Hồng càng sợ, càng lóng ngóng thế là nhận một cái tát từ mẹ. Hồng nước mắt giàn giụa nhìn thầy cầu cứu mà không được. Hồng thẩn thơ, buồn bã trong một góc vườn.)
* * *
Tối hôm ấy, sau khi đã uể oải ăn xong bữa cơm nguội rắc vừng, Hồng uống nước rồi lẳng lặng vào giường ngủ. Một lát sau, người bố vào, nằm bên con, quạt cho con. Một bàn tay y vuốt ve những sợi tóc mềm như tơ. Con bé nhắm nghiền đôi mắt, không dẫy dọn. Nhưng nó chưa ngủ hẳn… Bỗng nó nghe thấy mẹ khẽ bảo:
– Hôm nay, tôi tức quá, tát cái Hồng một cái, rồi thương đứt ruột. Suốt hôm, nghĩ đến lúc nào, tôi lại khóc. Không biết tôi điên hay sao ấy.
Thầy Hồng bảo:
– Đấy là mình lo lắng quá. Tôi cũng vậy: lắm lúc tôi biết mình mắng nó bất công mà cứ mắng; tại ruột mình lúc nào cũng nóng như lửa đốt; hơi một tí là mình cáu.
– Ấy tôi cũng thế…
– Nhưng chúng mình phải coi chừng! Tôi thấy nó ít lâu nay chậm chạp và ngơ ngẩn lắm, không được nhanh nhẹn, ngộ nghĩnh như trước. Đừng mắng lắm, nó mụ người đi đấy. Mà mình bắt nó làm vừa chứ! Nó còn non tuổi lắm: Đến tháng chín này mới đầy năm tuổi. Đã làm, làm sao được?
– Thì ai chả biết! Hồng nó thì làm gì được? Có mà còn phải hầu nó chán.
– Thế sao mình cứ bắt làm? Mà nó làm không được thì lại đánh?
– Thì đã bảo: điên mà lại! Con bé thật có nết. Chỉ vì mình túng cho nên nó khổ… Mẹ nó! Ấy thế mà ngủ ù ỉ như lợn rồi đấy!…
Thật ra thì Hồng có ngủ đâu. Nó nghe thấy tất. Tự nhiên nó thấy nước mắt giàn giụa chảy ra đầy má. Nó không dám chùi, sợ thầy nó biết. Nhưng bỗng thầy nó quay vào, ôm lấy nó, áp môi vào má nó, ngạc nhiên một thoáng rồi bùi ngùi bảo:
– Tội nghiệp con tôi! Đang khóc mê đây này…
(Bài học quét nhà,Tuyển tập Nam Cao, NXB Văn học, trang 483,484 )
Dàn ý Đoạn văn 200 chữ làm rõ đặc điểm của nhân vật truyện ngắn trong văn bản Bài học quét nhà
– Xác định được các ý phù hợp để làm rõ vấn đề nghị luận, sau đây là một số gợi ý:
+ Nhân vật truyện ngắn là những con người đời thường
+ Nhân vật thường được đặt vào tình huống cụ thể: sau việc quét nhà, Hồng đi ngủ, Hồng vô tình nghe được câu chuyện của thầy u về việc quét nhà trước đó
+ Nhân vật bộc lộ tính cách qua những thay đổi về tâm lí, ứng xử trong quá trình phát triển của câu chuyện: sau khi nghe câu chuyện của thầy u, Hồng hiểu những thay đổi của thầy u là do cuộc sống quá khó khăn, thầy u rất yêu thương Hồng, Hồng ân hận, Hồng thương thầy u… tất cả cho thấy Hồng dù còn nhỏ nhưng có tâm hồn nhạy cảm, hiểu chuyện và giàu tình cảm…
+ Góp phần thể hiện chủ đề của văn bản: hoàn cảnh khó khăn dễ làm con người tha hoá, rơi vào bi kịch, cho dù thế nào thì chúng ta luôn cần phải trân trọng, nâng niu trẻ thơ…
+ Nghệ thuật miêu tả, phân tích tâm lí nhân vật tinh tế, sắc sảo..
+ Thể hiện lòng cảm thông và xót thương cho số phận của con người nhất là người trí thức nghèo trong xã hội cũ.

Đoạn văn 200 chữ làm rõ đặc điểm của nhân vật truyện ngắn trong văn bản Bài học quét nhà (Mẫu 1)
Trong Bài học quét nhà, nhà văn Nam Cao đã xây dựng nhân vật bé Hồng, hình ảnh tiêu biểu cho tuổi thơ bất hạnh trong xã hội cũ. Mới 5 tuổi, Hồng đã phải gánh chịu những trận đòn roi, chửi mắng, hắt hủi vô cớ từ chính mẹ mình và sự tính toán chi li đầy đau xót của người cha. Qua dòng hồi ức đan xen với hiện tại, ta thấy Hồng từng có những tháng ngày yên vui, được cha mẹ yêu thương, nhưng tất cả đã bị thay thế bởi cảnh túng quẫn, bế tắc của gia đình. Điều đáng nói là nhân vật không hiểu được nguyên nhân của sự thay đổi ấy, bởi em còn quá nhỏ bé và ngây thơ. Chính sự hồn nhiên, yếu đuối của Hồng càng làm nổi bật bi kịch, tố cáo xã hội tàn nhẫn đã đẩy cả người lớn lẫn trẻ thơ vào khổ đau. Nhân vật bé Hồng không chỉ đại diện cho những đứa trẻ bị tổn thương trong gia đình nghèo khó, mà còn là lời nhắc nhở thấm thía về trách nhiệm bảo vệ tuổi thơ. Qua Hồng, Nam Cao thể hiện tấm lòng nhân đạo sâu sắc, trân trọng phẩm chất con người và kêu gọi sự cứu vớt những tâm hồn non nớt đang bị hủy hoại bởi đói nghèo và bất công.
Đoạn văn 200 chữ làm rõ đặc điểm của nhân vật truyện ngắn trong văn bản Bài học quét nhà (Mẫu 2)
Nhà văn Nam Cao trong Bài học quét nhà đã khắc họa thành công nhân vật bé Hồng với những nét đặc sắc giàu giá trị nhân đạo. Hồng hiện lên là đứa trẻ nhỏ dại, đáng thương, mới 5 tuổi nhưng đã phải gánh chịu bao tủi nhục và đòn roi. Em sợ hãi, lặng lẽ làm việc mẹ sai bảo, cái chổi còn to hơn tay mình, đến mức không dám khóc hay cãi lại. Điểm nổi bật ở nhân vật này là sự ngây thơ vô tội: Hồng không hiểu vì sao cha mẹ từ chỗ yêu thương bỗng trở nên cáu gắt, khắc nghiệt. Chính sự ngây thơ ấy khiến bi kịch gia đình thêm đau xót. Bên cạnh Hồng, nhân vật người cha và người mẹ cũng hiện lên trong bi kịch tinh thần: vì đói nghèo, họ trở nên tính toán, cáu bẳn, đôi khi vô tâm, tàn nhẫn với chính con mình nhưng trong sâu thẳm vẫn day dứt, ân hận. Qua nhân vật bé Hồng và gia đình em, Nam Cao không chỉ tái hiện một tuổi thơ bất hạnh mà còn gửi gắm sự cảm thông sâu xa đối với con người trong xã hội cũ. Hình tượng này góp phần làm nổi bật tư tưởng nhân đạo: kêu gọi giữ gìn nhân cách, bảo vệ những tâm hồn trẻ thơ khỏi sự bào mòn của nghèo đói và bất công.
Đoạn văn 200 chữ làm rõ đặc điểm của nhân vật truyện ngắn trong văn bản Bài học quét nhà (Mẫu 3)
Bài học quét nhà” là câu chuyện về một gia đình rơi vào hoàn cảnh túng quẫn nên xảy ra nhiều xung đột. Bé Hồng trong truyện tuy mới năm tuổi nhưng phải chịu bao đòn roi và sự ghét bỏ của người mẹ. Cũng chỉ vì hoàn cảnh túng quẫn mà bố bé Hồng đã phải tính toán chi ly, làm tổn thương tới chính đứa con mà mình đứt ruột đẻ ra: “Cái Hồng ngót năm tuổi rồi, chẳng còn bé bỏng gì, trao cho nó giữ em/ Ngày mai đi chợ, nhớ mua một củ nâu/ Bao nhiêu quần áo trắng của tôi, của chúng nó nhuộm tất cả đi cho bền và đỡ tốn xà phòng/ Đối với người lớn, cái sự ăn, kể cả của trẻ con chỉ là để tồn tại “miễn không chết thì thôi”. Mẹ luôn chửi mắng Hồng cả ngày, giao cho nó làm bao nhiêu việc, bắt nó quét nhà trong khi cái chổi còn to hơn tay nó, nó sợ đến mức không dám cãi mẹ, cũng không dám khóc. Khi cha Hồng nhìn thấy bi kịch đang diễn ra trước mắt, y đau xót lắm. Mẹ Hồng thì ân hận khi đã tát con. Hai vợ chồng lại an ủi nhau chỉ vì khó khăn nên mới cáu gắt như thế, chứ thực ra bé Hồng rất ngoan và thương bố mẹ. Đáng thương biết bao cho một đứa bé mới năm tuổi, cũng thương xót cho cuộc sống gia đình túng quẫn khó khăn đến thế. Bi kịch làm sao khi những đứa con nhỏ vô tội bỗng dưng lại phải gánh chịu những lời mắng nhiếc, thậm chí là đòn rôi vì bố mẹ chúng không biết giải tỏa sự căng thẳng, lo lắng cho cuộc sống hàng ngày như thế nào. Bi kịch gia đình hay cũng chính là bi kịch của tầng lớp nông dân, trí thức tiểu tư sản trước cách mạng tháng Tám 1945, xã hội thực dân nửa phong kiến đã đẩy con người vào bước đường cùng.
