Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn trích truyện dưới đây

Đề: Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn trích truyện dưới đây

Đoạn trích thứ nhất:

Mấy phút sau, đứa bé trở về, ông già mù cảm thấy hình như có một người bước lên xe. Ðứa bé nói với giọng run run:

– Ông ơi, có người lên đó ông chạy đi.

Thế rồi hai ông cháu dìu nhau chạy về phía sông Bồ, qua những quãng đường lầy lội và dưới dòng mưa đêm lạnh giá. Trong những cánh đồng ngập nước, tiếng ễnh ương đua nhau kêu não nùng như một bản nhạc mùa đông, nghe buồn thấm tuỷ. Hai ông cháu dưới mấy cái mo cau và tàu lá chuối kết lại thay tơi cắm đầu chạy trên quãng đường ướt át.

Trời tối đen như mực, nhưng may đứa cháu quen đường và nhờ ánh bùn chiếu lên bánh xe cũng khỏi vấp ngã.

Ðến bến đò làng Thanh vào khoảng một giờ khuya. Gió ngoài thổi vào lạnh như cắt thịt. Ðứa cháu sắp dắt ông vào mui thuyền thì như nghi ngại điều gì, người kéo xe mù đã cất tiếng hỏi:

– Tiền xe mô đưa cho ông?

Ðó là một câu hỏi bất ngờ vì mấy lần trước có bao giờ ông hỏi đến đâu. Hay cũng hỏi cho biết số, chứ chưa lúc nào ông định giữ lấy. Ðứa cháu run lẩy bẩy, lúng túng rồi bỗng ôm mặt khóc. Chỉ nghĩ thoáng qua người kéo xe mù đã hiểu ra lẽ thật. Có gì đâu, không thấy khách và muốn ông nó vui lòng, thằng bé đã bê một tảng đá nặng đặt lên nệm xe và dìu ông nó chạy.

Trí non nớt của nó có ngờ đâu mấy năm lao khổ trong nghề, ông nó phân biệt rất tinh tường người ngồi và vật đặt khác nhau nhiều lắm. Nhưng ông nó vẫn chạy, vì mù quáng, vì đói rách nên lòng vẫn hy vọng những chuyện không bao giờ có được. Và biết ra thì thêm khổ. Thấy cháu khóc, ông cũng nức nở theo.

(Trích Am cu ly xe, Thanh Tịnh, in trong tập Thơ ca – Đi giữa mùa sen – Quê mẹ – Ngậm ngải tìm trầm: Thơ – Trường ca – Tập truyện ngắn, NXB Hội Nhà văn, 2015, tr.41- tr.42)

Đoạn trích thứ hai:

“Sáng mai, kéo chuyến khách qua ga, xong rồi, ta đánh bát phở tái, rồi mua cho con cái bánh ga tô cho nó mừng. Vợ ta nghe thấy trong túi ta có tiền, thì chắc hớn hở, thấy ta làm lụng vất vả để kiếm tiền nuôi cả nhà, tất là thương ta lắm. Nhưng ta sẽ làm ra dáng không mệt nhọc, để vợ chồng con cái ăn tết với nhau cho hể hả”.

Anh vừa nghĩ thế, vừa kéo về phía nhà thương Phủ Doãn. Tới chỗ khi nẫy, anh dừng xe lại, nói:

– Bây giờ có lẽ mười hai giờ, xin bà cho cháu tiền.

Bà khách có ý luống cuống, nói:

– Chết! Anh hỏi tiền tôi bây giờ à? Anh chịu khó kéo tôi một giờ nữa đi.

– Thôi khuya rồi, cháu phải về nhà.

– Này, chả nói giấu gì anh, tôi cũng đi kiếm khách từ tối đến giờ. Có anh biết đấy. Có gặp ai hỏi han gì đâu. Tôi định nếu có khách thì hỏi vay tiền trước để giả anh. Nhưng chẳng may gặp phải cái tối xúi quẩy thế này, thì tôi biết làm thế nào?

– Thế cô đi xe tôi từ chín giờ, cô không giả tiền tôi à?

– Bây giờ thì tôi biết làm thế nào?

(Trích Người ngựa, ngựa người, Nguyễn Công Hoan, in trong Tuyển Tập Nguyễn Công Hoan, NXB Văn Học, 2023)

Dàn ý đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn trích truyện

  • Mở đoạn:

    • Giới thiệu hai tác giả: Thanh Tịnh (với phong cách trữ tình, nhẹ nhàng) và Nguyễn Công Hoan (bậc thầy của truyện ngắn trào phúng, hiện thực).

    • Nêu vấn đề cần so sánh: Thân phận người kéo xe và bi kịch cái nghèo trong xã hội cũ qua hai đoạn trích.

  • Thân đoạn:

    • Điểm tương đồng: * Cùng viết về đề tài người lao động dưới đáy xã hội (nghề kéo xe).

      • Bối cảnh thời gian: Đêm khuya, gần Tết hoặc mùa đông lạnh giá, gợi sự bế tắc.

      • Tình huống: Nhân vật đều hy vọng vào một chuyến xe để có tiền trang trải cuộc sống nhưng kết cục đều rơi vào cay đắng.

    • Điểm khác biệt:

      • Văn bản 1 (Thanh Tịnh): Tập trung vào tình cảm gia đình, sự hiếu thảo và nỗi đau của tình cốt nhục. Nghệ thuật thiên về bút pháp lãng mạn, trữ tình, giàu sức gợi cảm (tiếng ễnh ương, mưa đêm).

      • Văn bản 2 (Nguyễn Công Hoan): Tập trung vào mâu thuẫn giai cấp và sự trớ trêu của hoàn cảnh. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ đối thoại sắc sảo, lối viết hiện thực trào phúng, tạo ra tình huống “dở khóc dở cười” (người nghèo gặp kẻ nghèo hơn).

  • Kết đoạn: * Đánh giá chung: Hai cách tiếp cận khác nhau nhưng cùng chung một giá trị nhân đạo sâu sắc.

    • Khẳng định tài năng của mỗi nhà văn trong việc tái hiện nỗi khổ của con người.

Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn trích truyện dưới đây

Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn trích truyện (Mẫu 1)

So sánh về nội dung và thân phận nhân vật

Cả hai đoạn trích đều là những bản nhạc buồn về kiếp người “ngựa người” trong xã hội thực dân nửa phong kiến, nơi giá trị con người bị rẻ rúng như vật dụng. Ở “Am cu ly xe”, ta bắt gặp nỗi đau xé lòng của người ông mù và đứa cháu hiếu thảo. Vì muốn ông vui lòng, đứa bé đã đặt tảng đá lên xe để ông tưởng có khách, tạo nên một sự lừa dối ngọt ngào nhưng đầy cay đắng. Trong khi đó, ở “Người ngựa, ngựa người”, nỗi khổ lại hiện lên qua sự va chạm nghiệt ngã giữa hai cái nghèo: anh xe và cô đào ế khách. Cả hai nhân vật chính đều mang trong mình những ước mơ nhỏ bé (bát phở tái, cái bánh ga tô cho con) nhưng cuối cùng đều bị thực tại tàn nhẫn dập tắt. Nếu nhân vật của Thanh Tịnh tìm thấy hơi ấm trong tình người giữa cơn mưa lạnh, thì nhân vật của Nguyễn Công Hoan lại rơi vào tình cảnh bi kịch, bế tắc khi niềm hy vọng cuối cùng bị tước đoạt bởi chính một kẻ cũng khốn khổ như mình.

Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn trích truyện (Mẫu 2)

Phân tích đặc sắc nghệ thuật của hai bút pháp

Đặc sắc nghệ thuật của hai đoạn trích nằm ở sự đối lập giữa chất trữ tình ngoại cảnh và hiện thực đối thoại. Thanh Tịnh đã sử dụng một không gian đậm chất thơ nhưng là “vần thơ buồn thấm tủy”, với âm thanh của tiếng ễnh ương kêu não nùng và hình ảnh ánh bùn chiếu lên bánh xe. Cách miêu tả tâm lý của ông thiên về sự thấu cảm, dùng nỗi đau để khơi gợi lòng trắc ẩn nơi độc giả. Trái lại, Nguyễn Công Hoan không dùng nhiều tính từ miêu tả cảnh vật mà tập trung vào ngôn ngữ đối thoại trực diện. Lối viết hiện thực trào phúng của ông tạo nên một tình huống kịch tính khi anh xe nhận ra mình đã kéo một người không có tiền trả. Sự luống cuống của bà khách và câu hỏi “Thế cô đi xe tôi từ chín giờ, cô không giả tiền tôi à?” mang đậm chất mỉa mai, lột trần sự trần trụi của cuộc sống. Sự kết hợp giữa cái lãng mạn buồn thương của Thanh Tịnh và cái sắc sảo, gai góc của Nguyễn Công Hoan đã tạo nên cái nhìn toàn diện về nỗi khổ đau của con người.

Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) so sánh, đánh giá hai đoạn trích truyện (Mẫu 3)

Đánh giá giá trị nhân đạo và thông điệp của tác giả

Dù sử dụng những phương thức biểu đạt khác nhau, cả hai đoạn trích đều gặp nhau ở giá trị nhân đạo cao cả và niềm cảm thông sâu sắc cho số phận con người. Qua hình ảnh đứa bé tội nghiệp trong văn Thanh Tịnh và anh xe đáng thương trong văn Nguyễn Công Hoan, các nhà văn đã lên án mạnh mẽ xã hội bất công đã đẩy người lao động vào đường cùng. Thông điệp của Thanh Tịnh nghiêng về việc tôn vinh vẻ đẹp của sự hy sinh và tình yêu thương trong cảnh nghèo đói; dù khổ đau nhưng con người vẫn đối xử với nhau bằng sự tử tế. Còn Nguyễn Công Hoan lại bộc lộ sự xót xa qua tiếng cười ra nước mắt, cho thấy cái nghèo đã làm tha hóa và đẩy con người vào những tình huống oái oăm đến mức nào. Cả hai đoạn trích đều để lại dư vị ám ảnh, thôi thúc người đọc phải suy ngẫm về giá trị của hạnh phúc và sự công bằng trong cuộc đời.

Đánh giá bài viết

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Xem Bói Chỉ Tay