Đề bài: Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh “cơm” (cà mèn cơm, chén cơm, miếng cơm) trong đoạn trích sau:
…Chưa hết Tết, mới ngày mùng bốn anh lại phải đưa vợ con vào Sài Gòn. Bà mẹ dậy sớm làm gà, nấu cơm. Vẫn một mình bà cặm cụi với cái bếp. Bà xúc đầy cơm vào chiếc ca mèn. Gà luộc cho vào hộp đựng. “Bây đem lên xe mà ăn. Cơm dọc đường dọc sá không ngon đâu”.
Con cháu lên taxi rồi bà còn dặn theo: “Vào trong nhớ ăn uống đàng hoàng nghe bây. Đừng bỏ bữa sáng. Không ai thương bằng cơm thương”.
Vào tới Sài Gòn ca mèn cơm vẫn còn một nửa. Vợ định đem đi đổ. Anh can, bảo để đấy, phơi khô cất giữ làm kỷ niệm.
Qua tháng ba nghe tin mẹ bệnh, anh tức tốc về nhà. Nằm trên giường, gặp con, câu đầu tiên bà hỏi: “Con ăn chi chưa. Mẹ không bắc cơm được. Thôi ra đầu chợ ăn tạm. Bữa nào khỏe mẹ nấu cơm cho ăn. Tội nghiệp”.
Nhưng mẹ không khỏe nữa, yếu dần, được thêm hai bữa thì nhắm mắt.
Đưa mẹ ra đồng xong, về nhà nhìn chén cơm trắng đặt trên bàn thờ, anh thấy nhói lòng. Ân hận. Thế là hết cơ hội được ăn với mẹ một chén cơm sáng thật đầy, để nghe mẹ nói câu “Không ai thương bằng cơm thương”. Tiếc nuối. Thèm miếng cơm cháy mẹ nấu quá. Giòn và thơm, mùi hương đồng mùi nước quê, cả mùi khói bếp. Chỉ có mẹ mới nấu được miếng cơm cháy ngon như thế.
Hôm lên đường vào Sài Gòn, anh dậy sớm nấu chén cơm đặt lên bàn thờ mẹ. Anh tự mình vo gạo, tự mình nhóm bếp rơm. Loay hoay một hồi. Bếp nhà đầy khói. Và khói…
(Cơm mùi khói bếp – Hoàng Công Danh, Chuyến tàu vé ngắn, NXB Trẻ, trang 53,54 2016, TPHCM)

Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh “cơm” (cà mèn cơm, chén cơm, miếng cơm) trong đoạn trích sau: Chưa hết Tết..(mẫu 1)
Trong đoạn trích, hình ảnh “cơm” không chỉ là một món ăn quen thuộc trong đời sống hằng ngày mà còn mang ý nghĩa biểu tượng sâu sắc cho tình cảm gia đình, đặc biệt là tình mẹ. Ca mèn cơm mà người mẹ chuẩn bị cho con khi đi xa không đơn thuần nhằm đáp ứng nhu cầu vật chất, mà còn chứa đựng trong đó sự quan tâm, lo lắng và yêu thương vô bờ bến. Mỗi hạt cơm là một phần tấm lòng của mẹ, là sự chắt chiu từ gian khó, là mong ước con được no đủ, khỏe mạnh nơi đất khách. Câu nói “Không ai thương bằng cơm thương” đã khái quát một cách giản dị mà thấm thía quan niệm của người Việt: tình yêu thương chân thành nhất thường được thể hiện qua những việc làm nhỏ bé, âm thầm. Qua hình ảnh cơm, tác giả đã làm nổi bật vẻ đẹp của tình mẫu tử – thứ tình cảm bền bỉ, lặng lẽ nhưng sâu nặng và thiêng liêng.
Đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) phân tích hình ảnh “cơm” (cà mèn cơm, chén cơm, miếng cơm) trong đoạn trích sau: Chưa hết Tết..(mẫu 2)
Khi người con trở về, bắt gặp chén cơm trắng đặt trên bàn thờ mẹ, hình ảnh “cơm” lại mang một tầng ý nghĩa khác, gắn với nỗi nhớ, sự tiếc nuối và day dứt. Cơm lúc này không còn là món ăn của hiện tại mà trở thành ký ức, thành di sản tinh thần gợi nhắc về người mẹ đã khuất. Miếng cơm cháy giòn thơm, phảng phất mùi khói bếp và hương vị quê nhà, như đánh thức trong lòng nhân vật những kỷ niệm ấm áp của những bữa cơm sum họp. Chính sự giản dị ấy lại khiến nỗi mất mát trở nên đau xót hơn, bởi những điều bình thường nhất khi mất đi mới trở thành quý giá. Qua hình ảnh “cơm”, tác giả không chỉ bày tỏ niềm trân trọng đối với tình mẹ mà còn gửi gắm thông điệp nhân văn sâu sắc: hãy biết yêu thương, gìn giữ những giá trị gia đình khi còn có thể, bởi đó là những điều không gì thay thế được trong cuộc đời.
