Đề bài:Viết đoạn văn nghị luận (khoảng 200 chữ) nêu cảm nhận của anh/chị về hình tượng nhân vật ông lão trong đoạn trích sau:
[…] Chẳng mấy lúc đã đến ba mươi tháng chạp. Phiên chợ áp Tết, tiếng à à chợ búa nháo nhác đằng cây đa bên kia cánh đồng đã vang động từ sớm. Tiếng vịt cạc cạc, tiếng bò rống, tiếng người chửi nhau… Có xào xạc thế mới ra ngày chợ vét. Bởi vì sớm mai đã mùng một năm mới rồi. Ai dư dả tiền thì chúng họ thong dong đi sắm sửa từ những ngày chợ trong năm. Phiên chợ này của người cố cùng mới chạy được vài tiền, vội nhoáng nhoáng đi vơ cút rượu, thẻ hương, miếng thịt lợn cúng, lẻ gạo nếp… Lão cũng chẳng đào đâu ra đồng nào mà mó đến những thứ sắm sửa ấy. Lão chẳng màng đến phiên chợ. Cái Tết, lại cái Tết, rồi lại cái Tết, những tết nhất thờ ơ qua đi.
Khốn khổ, ấy thế mà lão, chỉ có lão, lão thuộc tất cả ruộng lúa, ruộng màu, ruộng đồng cao, đồng xa của mọi nhà trong làng. Bởi vì lão quanh năm đi làm thuê đã cày bừa tát nước tháo nước nhẵn các mặt ruộng.
Bây giờ thì lão đi cuốc. Ruộng trồng màu phải cuốc mới kỹ được đất. Để cắm dây khoai lang, khoai nghệ, lại cải thìa.., lắm giống mới quá. Ruộng huệ hoa trắng lôm lốp như đứa chít khăn đại tang. Chúng nó hoá rồ đến nơi, trồng các cái ăn cái uống linh tinh. Chẳng bận đến lão. Lão chỉ biết bổ nhát cuốc, lão mong được có việc làm suốt giêng hai. Nhưng đến năm cùng tháng tận thế này thì cũng chẳng nhà nào còn mướn cuốc ruộng nữa. Lão không làm dối, mà có lẽ bởi lão cuốc chậm. Cái già đã hất miếng cơm của lão. Nhưng chẳng cần, lão có việc khác, lão ối việc, có người thì có việc. Nhà kia gọi sửa bờ rào, đóng cổng ngăn, đào cái rãnh tát nước dưới ao, lại đánh gộc tre và không đi làm thì lão đi đặt đó, đánh lờ, kéo vó tôm, câu ếch, lão không đi chợ, nhưng thấy người ta đi chợ Tết thì lão cũng nghĩ có khi ta nên đi chợ đong lẻ gạo nếp, mua thẻ hương, khốn khó đến thế nào thì cũng phải lo nhớ đến các cụ. Nhưng chỉ nghĩ chứ chưa Tết nào lão đong được bát gạo, mua được thẻ hương, rồi cái nghĩ nhạt dần, rồi thôi, mà cứ mùng một Tết, lão múc bát nước mưa đem vào đặt lên hòn gạch ông đồ rau trong bếp cúng ông vải và vua bếp, lão cúng chay […]
(Trích truyện ngắn Ngày cuối năm, Tô Hoài – Tuyển tập truyện ngắn hay, NXB Văn học)

Đoạn văn 200 chữ nêu cảm nhận về hình tượng nhân vật ông lão trích truyện ngắn “Ngày cuối năm”(mẫu 1)
Trong đoạn trích Ngày cuối năm của Tô Hoài, hình tượng nhân vật ông lão hiện lên đầy ám ảnh, gợi nhiều xót xa và cảm phục. Ông là người nông dân nghèo quanh năm làm thuê, làm mướn, thuộc từng thửa ruộng trong làng nhưng lại không sở hữu lấy một tấc đất cho riêng mình. Cuộc sống của ông gắn liền với đói rét, thiếu thốn, đến nỗi Tết đến mà ông cũng thờ ơ, không có tiền để sắm sửa như người khác. Tuổi già khiến ông cuốc chậm, dần bị cuộc đời hất ra bên lề, song ông không buông xuôi mà luôn cố gắng tìm việc để sống, từ cuốc đất, sửa bờ rào đến đặt đó, đánh lờ, kéo vó. Đằng sau dáng vẻ lam lũ ấy là một con người lương thiện, giàu lòng thành kính. Dù nghèo đến cùng cực, ông vẫn nghĩ đến tổ tiên, vẫn giữ gìn nếp sống truyền thống bằng bát nước mưa cúng chay ngày mồng một Tết. Qua hình tượng ông lão, Tô Hoài đã thể hiện niềm cảm thương sâu sắc đối với người lao động nghèo, đồng thời khẳng định vẻ đẹp bền bỉ, nhân hậu của họ trong cuộc sống đầy cơ cực.
Đoạn văn 200 chữ nêu cảm nhận về hình tượng nhân vật ông lão trích truyện ngắn “Ngày cuối năm”(mẫu2)
Trong đoạn trích Ngày cuối năm của Tô Hoài, hình tượng ông lão được khắc họa chân thực và giàu sức gợi, phản ánh sâu sắc số phận người nông dân nghèo trước Cách mạng. Ông là người lao động lam lũ, quanh năm cuốc bẫm, làm thuê khắp làng, “thuộc” mọi thửa ruộng nhưng lại không có nổi một mảnh đất cắm dùi. Khi Tết đến, giữa không khí chợ búa rộn ràng, ông lặng lẽ đứng ngoài niềm vui chung vì không có tiền sắm sửa, để mặc những cái Tết thờ ơ trôi qua. Tuổi già khiến sức lao động giảm sút, công việc ngày càng khó kiếm, nhưng ông không hề ỷ lại hay than thân trách phận, mà vẫn bền bỉ xoay xở để kiếm sống bằng đủ thứ việc lặt vặt. Đáng quý hơn cả là ở ông vẫn còn nguyên vẹn nếp sống đạo lí: dù nghèo đến mức không mua nổi thẻ hương hay bát gạo nếp, ông vẫn thành kính cúng tổ tiên bằng bát nước mưa trong ngày đầu năm. Qua hình tượng ông lão, Tô Hoài không chỉ bày tỏ niềm xót thương sâu sắc đối với người nông dân nghèo mà còn trân trọng vẻ đẹp nhân hậu, cần cù và giàu lòng tự trọng của họ.
